Người Rục - Hôm qua và  hôm nay

Lần đầu tiên bộ đội ta phát hiện người Rục là vào năm 1960 và phát hiện thấy người A Rem là vào năm 1962. Nhờ đi lại, gần gũi và thuyết phục dần dần, mãi đến năm 1971 người Rục và người A Rem mới chịu rời khỏi hang động để về sống trong các mái nhà lụp xụp tự lên dựng lên gần các nguồn nước.
Từ lâu tôi đã nghe nói về người Rục, nhóm dân tộc ít người nhất ở nước ta, có nguy cơ diệt chủng  và cũng là nhóm người vốn cách đây không lâu còn sinh sống trong hang, mãi lâng này tôi mới có dịp đến tận bản Ón, thuộc xã Thương Hóa, Huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình để trực tiếp thăm hỏi bà con người Rục.
Trong 54 dân tộc an hem sinh sống trên đất nước ta không thấy có tên dân tộc Rục. Họ chỉ là một nhóm thuộc dân tộc Chứt (trong nhóm ngôn ngữ Việt – Mường). Theo thống kê năm 2003 thì người Chứt ở nước ta chỉ có 3.787 người (giảm 42 người so với năm 1999). Trong dân tộc Chứt có 7 nhóm khác nhau, đó là các nhóm Tục, Sách, Mày, Mã Liềng, A Lem, Sơ Lang, U Mo. Trước đây hai nhà nghiên cứu người Pháp  là A Cheon và T Guignard đã từng nhận xét về người Chứt là hết sức nhút nhát, hễ thấy người lạ thì lập tức lẩn trốn. Họ không có quần áo, nam nữ đều che mình bằng vỏ cây sui, ngủ chung lẫn lộn trong hang hoăc trong lều. Họ ăn bột nhút và săn bắt tôm cá , thú nhỏ trong rừng. Cả nam và nữ đều búi tóc đằng sau.
Người Rục và người A Rem là hai nhóm ít người nhất trong dân tộc Chứt và cũng là hai nhóm nghèo khổ, lạc hậu nhất . Từ xa xưa hộ đã quen sống cách ly với cộng đồng các dân tộc khác. Họ sống trong hang và dựa vào nguồn thức ăn thu được do hái lượm hay săn  bắt thú vật, bắt cá trong suối. Nhúc là loại thức ăn bột chủ chốt , thu được từ cây đoắc thuộc họ cau dừa. Trước đây họ tự đan lấy quần áo từ sợi vỏ của cây sui thuộc họ dâu tằm. Ngôn ngữ của người Rục và người A Rem là có gốc Austroasianic nhưng ít bị ảnh hưởng nhiều của tiếng Thái, tiếng Hoa như ngôn ngữ Việt  - Mường.
Lần đầu tiên bộ đội ta phát hiện người Rục là vào năm 1960 và phát hiện thấy người A Rem là vào năm 1962. Nhờ đi lại, gần gũi và thuyết phục dần dần, mãi đến năm 1971 người Rục và người A Rem mới chịu rời khỏi hang động để về sống trong các mái nhà lụp xụp tự lên dựng lên gần các nguồn nước.
Tại xã Thượng Hóa, nơi có nhiều người Rục nhất, cũng chỉ có 324 người. Đường vào xã hết sức khó khăn nên dầu đã ra khỏi hang nhưng hầu hết họ vẫn có cuộc sống tách biệt với toàn xã hội.
Chính phủ đã bỏ ra nguồn kinh phí 32 tỷ đồng để tập trung phát triển kinh tế vùng người Rục. Nhờ nguồn tiền quý gia này mà giờ đây ô tô có thể dễ dàng lượn qua con đường xuyên rừng rất thơ mộng  để đến tận Bản Ó. Cũng tại đây những ngôi nhà nhỏ bằng gạch ngói với hai buồng hẹp dành cho từng hộ người Rục đã được dựng lên. Trường học và trạm xá đã xuất hiện, điện đã được kéo dây về bản  và một số hộ đã được xem ti vi qua các chảo nhỏ treo trước cửa. Trẻ em và người lớn đã có quần áo, nhưng có lẽ do quyên góp được của người Kinh nên có gì mặc nấy. Nhiều đứa trẻ còn cởi truồng hoặc mặc những chiếc áo dài tới tận đầu gối (!). Tôi thiết tha được lên tiếng kêu gọi bà con ta ở thành phố hãy gửi đến đây những bộ quần áo cũ mà lâu nay không dùng tới nữa. Nơi tiếp nhận tại thành phố Hồ Chí Minh là tru sở tạp chí kiến thức ngày nay (68 Trần Hưng Đạo, Quận 1) và tại Hà Nội là trung tâm công nghệ sinh học (Đại học quốc gia Hà Nội, 114 đường Xuân Thủy). Tôi sẽ trực tiếp chuyển giao nhanh nhất số quần áo này  tới Bản Ón cho cộng đồng người Rục anh em.
Điều đáng lo lắng nữa  là việc suy dinh dưỡng của trẻ em tại đây. Do không có chủ trương hạn chế sinh đẻ với dân tộc quá ít người này nên trẻ con ở Bản Ón rất đông. Trông cứ như trứng gà, trứng vịt và người bế chúng tuy là mẹ nhưng  chỉ như những thiếu nữ  15 – 16 tuổi, thức ăn chính của họ hiện nay là các món bồi. Một cụ bà biểu diễn cho chúng tôi xem cách chế biến món ăn chủ lực này. Đầu tiên là mài các củ sắn lưu niên (to như bắp chân) thành bột. Sau đó cho vào ống và nén bằng cách ngồi lên một đầu đòn (đầu kia cố định lại bằng dây thép) để loại bớt nước trong sắn, sau đó trộn với bột ngô và hấp cách thủy. Món bồi được đổ ra mẹt và người lớn, trẻ em chỉ bốc ăn với …muối ớt (!) hoặc măng rừng, rau rừng. Thú rừng, chim muông và tôm cá đâu còn dễ săn bắt như khi còn ở trong hang động và khi rừng còn rậm rạp, giàu có tài nguyên. Tôi mong muốn được phổ biến cho bà con công nghệ nuôi thỏ nhốt trong chuồng với kỹ thuật phòng tránh được bệnh đường ruột cho thỏ. Cán bộ thuộc chương trình tự nguyện đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hộ nông dân sẵn sàng tới Bản Ó để hướng dẫn bà con, nhưng doanh nghiệp nào sẵn lòng bỏ vốn cho bà con mua thỏ giống và sẵn lòng thu mua sản phẩm lại từ khu núi rừng xa xôi này ? Chúng tôi chờ đợi các nhà doanh nghiệp giàu lòng hảo tâm và có kế hoạch chuyển hóa nguồn cây cỏ bạt ngàn ở vùng đồi núi hoang vu này thành hàng trăm, hàng nghìn tấn thịt thỏ đóng hộp cung cấp cho siêu thị (chưa kể đến nguồn da thỏ có màu long rất đẹp).
Bà con dân tộc Rục thật sự đang hồi sinh nhờ sự giúp đỡ của nhà nước , nhưng họ vẫn đang là một trong những nhóm dân tộc nghèo nhất nước. Mọi sự giúp đỡ cho dù lớn hay nhỏ đều hết sức quý giá để giúp họ có cuộc sống không còn tách biệt quá xa với cộng đồng các dân tộc anh em khác trên đất nước ta.
20/04/2016 , Giáo sư Nguyễn Lân Dũng - kiến thức ngày nay- năm 2006

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *